Tìm hiểu độ đục của nước ao nuôi tôm

mtvinhtam
Tìm hiểu độ đục của nước ao nuôi tôm

Độ đục, độ trong cũng là một trong những yếu tố không kém phần quan trọng cần kiểm soát trong ao nuôi thủy sản. Nhằm tránh được các tác động xấu của nó lên sức khỏe động vật thủy sản, cũng như môi trường ao nuôi.

Độ trong và độ đục trong mô hình nuôi tôm công nghiệp

Nguồn gốc

Độ đục của nước liên quan đến số lượng của vật chất nằm lơ lửng trong nước, là khả năng cản những tia nắng mặt trời và độ trong của nước là khả năng cho ánh sáng xuyên qua nước.

Độ đục có thể là kết quả từ nhiều nguồn khác nhau. Có thể do nguồn nước, nước rửa trôi, bụi phóng xạ từ không khí. Hoặc do chuyển động của dòng nước, của tôm cá, do thức ăn thừa, hay chất thải của tôm cá nuôi, sự phát triển của tảo… Độ đục sẽ khác nhau phụ thuộc vào vị trí ao, nguồn cấp nước, đối tượng nuôi ở những ao nuôi khác nhau.

Độ trong nước ao nuôi chủ yếu phụ thuộc vào số lượng và đặc tính khối chất cái (seston) trong nước, đó là tập hợp các sinh vật và các thể vẩn lơ lửng trong nước.

Độ trong thích hợp của ao nuôi tôm 30 – 45cm.

Tìm hiểu độ đục của nước ao nuôi tôm

Tác động của độ đục đối với môi trường ao nuôi

Độ đục quá cao (độ trong thấp) sẽ có những tác động bất lợi cho hệ sinh vật dưới nước và sức khỏe chung của cả ao, gây giảm năng suất ao nuôi.

Độ đục cao làm giảm ánh sáng mặt trời xâm nhập vào trong nước.

Cá sẽ bị thiếu ôxy và nổi đầu vào lúc sáng sớm. Điều này có thể dẫn đến tỷ lệ tăng trưởng kém, nếu bùn nhiều quá mức có thể gây kích ứng mang cá, dập trứng cá và gây chết ngạt ở các cộng đồng động vật thủy sinh.

Ở tôm, nếu độ đục cao có thể gây ra chênh lệch nhiệt độ và phân tầng ôxy hòa tan trong ao nuôi. Nó cũng có thể gây ra tắc nghẽn mang tôm hoặc gây chấn thương trực tiếp đến các mô của tôm.

Ngược lại, nếu độ trong quá cao, nước nghèo dinh dưỡng, sinh vật phù du kém phát triển sẽ hạn chế thành phần thức ăn tự nhiên của cá, tôm làm giảm năng suất nuôi trong ao. Đối với các ao nuôi nước quá trong sẽ làm cá nuôi trở nên nhạy cảm, sợ và bỏ ăn. Đặc biệt, với các ao ương giống sẽ làm giảm tỷ lệ sống trong khi ương một cách đáng kể do thiếu hụt lượng thức ăn tự nhiên.

Tìm hiểu độ đục của nước ao nuôi tôm

Một số cách xử lý độ đục ở nước nuôi tôm

Ảnh hưởng của độ kiềm đến độ đục ao nuôi tôm

Trong các ao có độ kiềm trên 40 ppm, hoặc nếu bón vôi không làm hết độ đục, có hai lựa chọn: xử lý độ đục bằng phân vi sinh hoặc xử lý ao bằng chất trợ lắng, keo tụ. Cách tiếp cận phổ biến là thử phân vi sinh và sử dụng chất trợ lắng, keo tụ là biện pháp cuối cùng.

Nhiều chất keo tụ có thể có bao gồm canxi sunfat (thạch cao), canxi clorua, nhôm sunfat (phèn), nhôm clorua, sắt sunfat, sắt clorua và một số polyme hữu cơ nhất định. Hai chất keo tụ phổ biến nhất được sử dụng trong ao nuôi thủy sản là thạch cao và phèn.

Hạt lắng

Độ đục khó chịu thường là do chất hữu cơ lơ lửng hoặc các hạt bùn mịn. Các hạt này vẫn ở trạng thái huyền phù, gây đục kéo dài vì ba lý do cơ bản.

  • Trong môi trường ao nuôi luôn chuyển động, kéo theo các hạt mịn chuyển động và khó lắng xuống đáy ao.
  • Tốc độ bị cuốn lên trở lại của các hạt có thể nhanh hơn tốc độ lắng.
  • Hạt lơ lửng thường lắng với tốc độ cực kỳ chậm.

Các ion Na+, K+ có hiệu quả thấp trong quá trình trợ lắng so với các ion Ca2+, Mg2+.

Các ion kim loại như nhôm và sắt là những chất keo tụ đặc biệt mạnh (hỗ trợ kéo chất lơ lửng xuống), nhưng nồng độ tự nhiên của chúng trong nước rất thấp.

Ngoài ra, sự thay đổi độ pH của nước do hoạt động quang hợp hoặc phân hủy chất hữu cơ đôi khi làm thay đổi điều kiện xung quanh các hạt lơ lửng và làm cho chúng kết tụ và lắng xuống.

Thạch cao

Tỷ lệ xử lý thông thường là 100-150 mg/L, thực hiện các thử nghiệm trong lọ để xác định tỷ lệ xử lý hiệu quả ít tốn kém nhất. Trong ao rộng 1 ha, sâu 1m, với nồng độ sử dụng 100 mg/L sẽ cần 1.000 kg/ha.

Thạch cao nên được rải khắp bề mặt ao, và khi nó hòa tan sẽ làm tăng nồng độ canxi trong nước để cải thiện điều kiện cho quá trình keo tụ của các hạt lơ lửng. Tỷ lệ xử lý hiệu quả đối với clorua canxi (CaCl2) tương tự như đối với thạch cao.

Phèn nhôm

Liều lượng các hợp chất sắt và nhôm cần thiết để làm giảm độ đục thấp hơn liều lượng sử dụng các hợp chất canxi (Ca). Ví dụ, phèn nhôm lọc thường có hiệu quả ở nồng độ 20-50 mg/L. Phèn có khả năng gây nguy hiểm vì nó có tính axit cao và người sử dụng nên mặc quần áo bảo hộ. Phèn cũng làm giảm tổng nồng độ kiềm khoảng 0,5 ppm cho mỗi 1,0 mg/L chất keo tụ này.

Tìm hiểu độ đục của nước ao nuôi tôm

Trong hầu hết các ao, phèn làm giảm độ kiềm và pH, nhưng sau một vài ngày, các giá trị trở lại mức ban đầu (Hình 1). Tuy nhiên, các phương pháp xử lý phèn không được quá 50% tổng nồng độ kiềm, và nước có độ kiềm thấp nên được bón vôi trước khi bón phèn.

Phèn chua nên được hòa tan trước trong nước và phun trên toàn bộ mặt nước ao vào những ngày không có mưa. Có thể sử dụng quạt nước trong vài phút để trộn phèn với nước ao, nhưng sau đó nên tắt máy để lắng cặn.

Điều quan trọng là phải bón đủ lượng phèn MỘT LẦN để tạo keo tụ. Thành phần hoạt tính, ion nhôm, kết tủa từ nước dưới dạng nhôm hydroxit trong vòng vài phút. Nếu liều lượng dùng không đủ, nó bị mất hoạt tính. Do đó, cần thận trọng khi thực hiện thử nghiệm để xác định tỷ lệ tạo tủa hiệu quả.

Loại bỏ các nguồn gây đục trước tiên

Xử lý bằng chất keo tụ, đặc biệt là phèn, hầu như luôn làm sạch được độ đục của ao. Tuy nhiên, độ đục có thể quay trở lại do các nguồn gây đục chưa được kiểm soát. Các hoạt động do máy sục khí tạo ra gây ra độ đục, và tác động của sóng và gió bình thường đủ để liên tục tái huyền phù các hạt lơ lửng và gây ra độ đục.

Phương pháp tốt nhất luôn là loại bỏ các nguồn gây đục, và chỉ sử dụng phèn nếu vẫn còn đục.

 

You may also like

Để lại bình luận

Trang web này sử dụng cookie để cải thiện trải nghiệm của bạn. Chúng tôi sẽ cho rằng bạn đồng ý với điều này, nhưng bạn có thể chọn không tham gia nếu muốn. Chấp nhận Đọc thêm

0932 884 877